Nếu chỉ có bị cáo (hoặc người bào chữa, người đại diện của bị cáo) kháng cáo, toà phúc thẩm không được tăng hình phạt, không được áp dụng tội nặng hơn và không được làm tình trạng của bị cáo xấu đi. Toà chỉ có thể giữ nguyên hoặc sửa theo hướng có lợi. Hướng bất lợi chỉ mở ra khi Viện kiểm sát kháng nghị hoặc bị hại kháng cáo yêu cầu tăng nặng, và chỉ trong phạm vi yêu cầu đó.
Đây là câu hỏi số một của gia đình bị cáo trước khi ký đơn kháng cáo: "lỡ toà xử nặng hơn thì sao". Nỗi lo này có cơ sở ở một số tình huống, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Bài viết giải thích nguyên tắc theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, các tình huống làm phát sinh ngoại lệ, những thứ được coi là "tăng nặng", và cách đọc rủi ro khi biết bên kia đã kháng cáo hoặc kháng nghị.
Ba tình huống và câu trả lời ngắn
Cách nhanh nhất để biết vụ của bạn có rủi ro bị tăng án ở phúc thẩm hay không là nhìn xem ai đã kháng cáo, kháng nghị và theo hướng nào. Bảng sau đặt ba tình huống thường gặp cạnh nhau.
| Ai kháng cáo, kháng nghị | Toà phúc thẩm có thể làm gì | Rủi ro với bị cáo |
|---|---|---|
| Chỉ bị cáo xin giảm nhẹ hoặc kêu oan | Giữ nguyên bản án, hoặc sửa có lợi: giảm án, chuyển tội nhẹ hơn, cho hưởng án treo, giảm bồi thường | Không bị tăng án; xấu nhất là giữ nguyên |
| Bị hại kháng cáo đề nghị tăng hình phạt | Có thể tăng hình phạt nếu có căn cứ, trong phạm vi yêu cầu của bị hại | Có rủi ro tăng nặng, kể cả khi bị cáo cũng kháng cáo xin giảm |
| Viện kiểm sát kháng nghị theo hướng tăng nặng | Có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản nặng hơn, bỏ án treo, áp dụng thêm hình phạt bổ sung nếu có căn cứ | Rủi ro tăng nặng rõ nhất, cần chuẩn bị lập luận đối đáp |
Kháng cáo của bị hại chỉ về phần bồi thường không mở đường tăng hình phạt tù. Tương tự, kháng nghị theo hướng có lợi cho bị cáo (có trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị đề nghị giảm án) không tạo rủi ro tăng nặng. Vì vậy chữ quan trọng nhất trong đơn và quyết định là "theo hướng".
Vì sao luật đặt nguyên tắc không làm xấu hơn
Nguyên tắc này bảo vệ quyền kháng cáo của bị cáo. Nếu việc kháng cáo có thể khiến chính mình bị xử nặng hơn mà không ai yêu cầu, nhiều bị cáo sẽ không dám kháng cáo dù bản án có sai sót. Khi đó con đường kiểm tra bản án ở cấp trên mất tác dụng với chính người cần nó nhất. Vì thế luật tố tụng hình sự Việt Nam, cũng như nhiều hệ thống pháp luật khác, cho phép bị cáo kháng cáo mà không sợ bị phạt thêm vì đã kháng cáo.
Mặt khác, luật không muốn bỏ qua những bản án xử quá nhẹ. Người có trách nhiệm bảo vệ lợi ích chung là Viện kiểm sát, nên khi cho rằng bản án nhẹ, Viện kiểm sát có công cụ kháng nghị. Người chịu thiệt hại trực tiếp là bị hại, nên họ cũng có quyền kháng cáo đề nghị tăng hình phạt hoặc tăng bồi thường. Hai kênh đó là "cửa" duy nhất để toà phúc thẩm đi theo hướng bất lợi cho bị cáo.
Hiểu được lý do này giúp bạn đọc đúng vị trí của mình: nỗi lo bị tăng án không đến từ việc bị cáo kháng cáo, mà đến từ việc người khác kháng cáo hoặc kháng nghị theo hướng ngược lại.
"Làm xấu hơn" gồm những gì
Nhiều người chỉ nghĩ tới số năm tù. Thực ra luật hiểu "tăng nặng" theo nghĩa rộng hơn. Khi không có kháng nghị hoặc kháng cáo theo hướng bất lợi, toà phúc thẩm không được làm bất kỳ việc nào dưới đây với bị cáo:
- Tăng mức hình phạt chính, chẳng hạn từ 3 năm tù lên 4 năm tù.
- Áp dụng điều, khoản của Bộ luật Hình sự về tội nặng hơn hoặc khung hình phạt nặng hơn so với bản án sơ thẩm.
- Chuyển sang loại hình phạt nặng hơn, ví dụ từ cải tạo không giam giữ sang tù có thời hạn.
- Bỏ án treo để buộc chấp hành hình phạt tù.
- Áp dụng thêm hình phạt bổ sung mà bản án sơ thẩm chưa áp dụng, hoặc tăng hình phạt bổ sung đã có.
- Áp dụng biện pháp tư pháp bất lợi hơn, chẳng hạn tịch thu thêm tài sản.
- Tăng mức bồi thường thiệt hại mà bị cáo phải trả.
Danh sách này dùng để kiểm tra một bản án phúc thẩm sau khi nhận: nếu thấy một trong các thay đổi trên trong khi vụ án chỉ có kháng cáo của bị cáo, đó là dấu hiệu cần người bào chữa xem lại ngay, vì có thể đã vi phạm nguyên tắc.
Kháng cáo của bị hại: mở cửa đến đâu
Bị hại có quyền kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, và đây là nguồn rủi ro gia đình bị cáo hay bỏ qua. Nhiều trường hợp bị cáo nộp đơn xin giảm án, đến khi nhận thông báo mới biết bị hại cũng kháng cáo theo hướng ngược lại. Khi đó phiên phúc thẩm có hai lực kéo, và toà sẽ cân nhắc cả hai dựa trên hồ sơ.
Kháng cáo của bị hại có giới hạn. Nó chỉ mở cửa cho phần mà bị hại yêu cầu: đòi tăng bồi thường thì toà có thể tăng bồi thường, nhưng không vì thế mà tăng mức tù. Đòi tăng hình phạt đối với một bị cáo thì không tạo rủi ro cho đồng phạm khác mà bị hại không nhắc tới. Đọc kỹ đơn của bị hại là việc đầu tiên khi nhận thông báo kháng cáo.
Ở góc ngược lại, việc bị hại kháng cáo tăng nặng thường bắt nguồn từ cảm giác chưa được bồi thường, chưa được xin lỗi, hoặc thấy mức án không tương xứng. Trong nhiều vụ, gia đình bị cáo chủ động khắc phục hậu quả và thể hiện thiện chí, bị hại có thể rút kháng cáo trước hoặc tại phiên toà. Đó là quyền tự quyết của bị hại; mọi hành vi đe doạ, ép buộc bị hại rút đơn đều có thể dẫn tới hậu quả pháp lý nghiêm trọng cho người làm.
Chiều ngược lại: toà phúc thẩm được sửa có lợi đến đâu
Nguyên tắc không làm xấu hơn chỉ chặn một chiều. Chiều có lợi thì toà phúc thẩm được đi khá xa nếu có căn cứ: miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt, áp dụng điều khoản về tội nhẹ hơn, giảm mức hình phạt, chuyển sang loại hình phạt nhẹ hơn, giữ nguyên mức tù nhưng cho hưởng án treo, giảm hoặc miễn hình phạt bổ sung, giảm mức bồi thường. Những thay đổi này có thể áp dụng cả với bị cáo không kháng cáo nếu toà thấy cần thiết.
Căn cứ để sửa có lợi thường đến từ ba nguồn. Thứ nhất, cấp sơ thẩm đánh giá chưa đúng tình tiết đã có trong hồ sơ, ví dụ bỏ sót một tình tiết giảm nhẹ. Thứ hai, có tình tiết mới phát sinh sau phiên sơ thẩm, như bị cáo bồi thường thêm hoặc bị hại có đơn xin giảm nhẹ. Thứ ba, có quy định mới có lợi cho người phạm tội được áp dụng với vụ án đang xét. Mỗi nguồn cần giấy tờ chứng minh riêng, và việc chuẩn bị giấy tờ đó mới là phần việc chính của gia đình trong khoảng chờ.
Khi toà không sửa mà huỷ án
Có một tình huống gia đình hay nhầm: toà phúc thẩm không tăng án, nhưng huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại, và ở vòng sau kết quả có thể nặng hơn. Luật tố tụng hình sự cho phép huỷ án khi có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm, bỏ lọt người phạm tội, hoặc cần khởi tố, điều tra về tội nặng hơn, cũng như khi có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Về nguyên lý, hướng bất lợi cho bị cáo ở phúc thẩm, dù bằng cách sửa hay huỷ để làm lại theo hướng nặng hơn, thường gắn với việc có kháng nghị hoặc kháng cáo theo hướng đó. Còn huỷ án vì vi phạm thủ tục nghiêm trọng thì có thể xảy ra ngay cả khi chỉ bị cáo kháng cáo, và lúc này bản án mới ở cấp sơ thẩm vẫn phải tôn trọng giới hạn mà quy định về xét xử lại đặt ra. Cách áp dụng cụ thể phụ thuộc hồ sơ, nên khi nhận một bản án huỷ, bạn cần người bào chữa đọc phần nhận định để biết vụ án đang quay lại theo hướng nào.
Các bước tiếp theo khi án hình sự bị huỷ được viết riêng ở danh mục về án bị huỷ giao xử lại; ở đây chỉ cần nhớ huỷ án không đồng nghĩa với tăng án, và cũng không đồng nghĩa với được giảm án.
Đọc rủi ro trước phiên phúc thẩm
Khi đã biết vụ án có những kháng cáo, kháng nghị nào, gia đình và người bào chữa có thể tự đánh giá rủi ro theo trình tự sau:
- Liệt kê toàn bộ kháng cáo, kháng nghị, ghi rõ của ai, nhắm vào bị cáo nào, theo hướng tăng hay giảm, phần hình phạt hay phần bồi thường.
- Nếu chỉ có kháng cáo của bị cáo: rủi ro tăng án bằng không, tập trung chuẩn bị tình tiết có lợi.
- Nếu có kháng cáo tăng nặng của bị hại: tìm hiểu lý do, xem xét việc khắc phục hậu quả một cách tự nguyện, chuẩn bị chứng cứ về tình tiết giảm nhẹ để đối trọng.
- Nếu có kháng nghị tăng nặng của Viện kiểm sát: đọc kỹ căn cứ kháng nghị (cho rằng sơ thẩm áp dụng sai tình tiết giảm nhẹ, sai khung, cho án treo không đúng…), chuẩn bị lập luận phản biện từng điểm.
- Cân nhắc việc rút hay giữ kháng cáo của bị cáo: việc rút kháng cáo không làm mất kháng nghị hay kháng cáo của người khác, nên không phải cách tránh rủi ro tăng nặng.
- Ghi lại những điểm cần trình bày tại phiên và gửi văn bản ý kiến cho toà trước phiên nếu có thể.
Câu hỏi thường gặp
Chỉ bị cáo kháng cáo xin giảm án, toà phúc thẩm có tăng án không?
Không. Khi chỉ có kháng cáo của bị cáo hoặc người bào chữa, người đại diện của bị cáo, toà phúc thẩm chỉ được giữ nguyên hoặc sửa theo hướng có lợi. Toà không được tăng hình phạt, áp dụng tội nặng hơn, bỏ án treo hay tăng bồi thường.
Bị hại kháng cáo chỉ đòi thêm tiền bồi thường thì mức tù có bị tăng không?
Không. Kháng cáo của bị hại về phần bồi thường chỉ mở đường để toà xem xét lại số tiền bồi thường. Muốn toà có căn cứ tăng hình phạt, phải có kháng cáo của bị hại đề nghị tăng hình phạt hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát theo hướng đó.
Rút kháng cáo có tránh được nguy cơ bị tăng án không?
Chỉ khi nguy cơ đó không tồn tại từ đầu. Nếu bị hại hoặc Viện kiểm sát đã kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng nặng, việc bị cáo rút kháng cáo không làm mất những yêu cầu đó. Phiên phúc thẩm vẫn diễn ra để xét kháng cáo, kháng nghị của họ.
Toà phúc thẩm có được bỏ án treo của bị cáo không?
Chỉ khi có kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc kháng cáo của bị hại theo hướng không cho hưởng án treo, và có căn cứ cho thấy việc cho hưởng án treo ở sơ thẩm là không đúng. Khi chỉ có kháng cáo của bị cáo, án treo được giữ nguyên.
Viện kiểm sát kháng nghị tăng nặng thì toà có chắc chắn tăng án không?
Không. Kháng nghị chỉ mở ra khả năng, toà vẫn phải xem xét căn cứ. Nếu thấy bản án sơ thẩm đã phù hợp, toà có thể không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên. Bị cáo và người bào chữa có quyền trình bày ý kiến phản biện kháng nghị tại phiên toà.
Bản án phúc thẩm tăng án trái nguyên tắc thì làm gì?
Bản án phúc thẩm có hiệu lực ngay, nhưng nếu có vi phạm nghiêm trọng như tăng nặng khi không có kháng nghị, kháng cáo theo hướng đó, người bị kết án có thể gửi đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm. Việc này cần luật sư đánh giá kỹ vì đây là con đường đặc biệt, không tự động dừng thi hành án.