PhucTham.comPhúc Thẩm
Thoả thuận, rút đơn ở phúc thẩm

Thoả thuận tại phiên toà phúc thẩm: điều kiện để toà sửa án và công nhận

Đã có bản án sơ thẩm vẫn thoả thuận được ở phiên phúc thẩm. Điều kiện để toà công nhận, trình tự trong phòng xử và cần chốt sẵn những gì.

Two people sitting apart on a wooden bench in a provincial courthouse corridor in Can Tho, seen from behind, one holding a closed folder, soft morning light

Bản án sơ thẩm đã tuyên, một bên đã kháng cáo, nhưng cánh cửa thoả thuận chưa đóng. Bộ luật Tố tụng dân sự cho phép các đương sự thoả thuận với nhau ngay tại phiên toà phúc thẩm. Nếu thoả thuận tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án sửa bản án sơ thẩm và công nhận nội dung các bên đã chốt.

Nhiều người nghĩ lên tới phúc thẩm thì chỉ còn chờ toà phán. Thực tế, đây lại là lúc cả hai bên nhìn rõ nhất vị thế của mình: đã có một bản án làm mốc, đã thấy chứng cứ của nhau, đã tốn khá nhiều thời gian và công sức. Bài này giải thích thoả thuận ở phúc thẩm vận hành ra sao, khác gì hoà giải ở sơ thẩm, và bạn cần chuẩn bị gì để thoả thuận được ghi nhận gọn, không bị gạt vì thiếu chi tiết.

Vì sao phiên phúc thẩm vẫn để ngỏ cửa thoả thuận

Tố tụng dân sự đặt nguyên tắc quyền tự định đoạt lên hàng đầu: tranh chấp là của các đương sự, họ có quyền tự quyết về quyền lợi của mình miễn là không xâm phạm lợi ích của nhà nước và người khác. Nguyên tắc này không dừng lại sau bản án sơ thẩm. Khi vụ án còn đang ở giai đoạn phúc thẩm, bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực ở phần bị kháng cáo, nên các bên vẫn còn nguyên quyền dàn xếp phần đó theo cách họ thấy hợp lý.

Về phía toà án, một thoả thuận tự nguyện thường là kết cục bền nhất. Bên thua theo bản án hay tìm cách trì hoãn thi hành, gửi đơn đề nghị giám đốc thẩm, kéo dài sang nhiều năm. Một thoả thuận mà chính họ ký thì khả năng tự giác thực hiện cao hơn hẳn. Vì vậy ở đầu phiên phúc thẩm, chủ toạ phiên toà thường hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không, bên cạnh việc hỏi về thay đổi, bổ sung hay rút kháng cáo.

Cần hiểu đúng một điểm: phúc thẩm không có thủ tục hoà giải riêng như giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Toà phúc thẩm không mở phiên họp hoà giải, không gửi giấy mời hai bên ngồi lại. Cơ hội thoả thuận nằm ngay trong phiên toà, và việc công nhận diễn ra bằng chính bản án phúc thẩm. Muốn tận dụng, các bên phải tự chuẩn bị từ trước, thường là thương lượng ngoài phòng xử rồi mang kết quả vào trình bày.

Năm điều kiện để thoả thuận được hội đồng xét xử chấp nhận

Tự nguyện thật sự. Hội đồng xét xử sẽ hỏi trực tiếp từng đương sự, thường hỏi riêng từng ý, để chắc không ai bị ép, bị doạ hay hiểu nhầm. Người nói lấp lửng, trả lời kiểu "thôi thì cũng được" rồi lại phàn nàn, rất dễ làm hội đồng dè dặt và chuyển sang xét xử bình thường.

Không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Thoả thuận chia một mảnh đất chưa đủ điều kiện tách thửa, thoả thuận lãi vượt mức luật cho phép, thoả thuận chuyển giao tài sản đang bị kê biên cho nghĩa vụ khác là những ví dụ toà sẽ không công nhận dù hai bên đều muốn.

Đúng người có quyền định đoạt. Người ngồi ở phiên toà phải là chính đương sự hoặc người đại diện có phạm vi đại diện bao gồm việc thoả thuận. Giấy uỷ quyền chỉ ghi "tham gia tố tụng" chung chung có thể không đủ; toà sẽ kiểm tra kỹ trước khi ghi nhận.

Không xâm phạm quyền lợi người thứ ba. Nếu nội dung thoả thuận động tới tài sản chung của người không phải đương sự, quyền lợi của con chưa thành niên, hay tài sản đang thế chấp ở ngân hàng, toà phải cân nhắc cả những người đó. Thoả thuận giữa hai người mà bắt người thứ ba gánh hệ quả thì không được công nhận.

Nội dung đủ rõ để thi hành. Số tiền bao nhiêu, trả vào lúc nào, bằng cách nào, tài sản nào giao cho ai, thửa đất nào xác định theo hồ sơ địa chính nào. Thoả thuận mơ hồ khiến cơ quan thi hành án không biết làm gì, và hội đồng xét xử thường yêu cầu các bên nói rõ từng chi tiết trước khi ghi vào bản án.

Thoả thuận diễn ra ở đâu trong trình tự phiên phúc thẩm

Mỗi phiên toà có diễn biến riêng, nhưng phần liên quan tới thoả thuận thường đi theo các bước sau. Biết trước giúp bạn không lúng túng khi chủ toạ quay sang hỏi.

  1. Mở phiên toà, kiểm tra sự có mặt của những người được triệu tập, phổ biến quyền và nghĩa vụ, hỏi về việc thay đổi người tiến hành tố tụng.
  2. Chủ toạ hỏi người kháng cáo có giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hay rút kháng cáo không; hỏi nguyên đơn có rút đơn khởi kiện không; hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án không.
  3. Nếu các bên cho biết đã thoả thuận hoặc muốn thoả thuận, hội đồng có thể cho thời gian ngắn để trao đổi; nhiều phiên, các bên trình bày luôn nội dung đã viết sẵn.
  4. Thư ký phiên toà ghi nội dung thoả thuận vào biên bản; hội đồng hỏi lại từng đương sự để xác nhận, kiểm tra điều kiện về tự nguyện, tính hợp pháp và quyền lợi người khác.
  5. Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật, trong đó có ý kiến về thoả thuận.
  6. Hội đồng nghị án và tuyên bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận; nếu không đủ điều kiện, phiên toà tiếp tục với phần hỏi và tranh luận.

Nếu chỉ thoả thuận được một số nội dung, hội đồng có thể công nhận phần đó và tiếp tục xét xử phần còn lại. Tình huống này phức tạp hơn, nên các bên cần nói rõ phần nào đã chốt, phần nào vẫn đề nghị toà quyết định.

Vì sao kết quả là "sửa bản án sơ thẩm"

Ở giai đoạn sơ thẩm, khi hoà giải thành, toà lập biên bản hoà giải thành, cho các bên một khoảng thời gian để suy nghĩ lại, rồi mới ra quyết định công nhận sự thoả thuận. Ở phúc thẩm thì khác: đã có một bản án sơ thẩm tồn tại, nên toà không thể ra một quyết định song song. Cách duy nhất để nội dung thoả thuận thay chỗ phán quyết cũ là sửa bản án sơ thẩm theo đúng nội dung các bên đã chốt.

Hệ quả thực tế quan trọng nhất là thời điểm hiệu lực. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Không có khoảng thời gian chờ để một bên đổi ý như ở sơ thẩm. Ký xong, hội đồng tuyên xong là nội dung đó ràng buộc ngay, và nếu bên kia không thực hiện, bạn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành.

Điều này đòi hỏi bạn phải cân nhắc trước khi gật đầu tại phiên. Ra khỏi phòng xử mới thấy mình nhượng quá nhiều thì gần như không còn đường lui. Đề nghị giám đốc thẩm với một bản án công nhận thoả thuận chỉ có cơ sở trong những trường hợp hẹp, chẳng hạn chứng minh được mình bị lừa dối, bị ép buộc, hoặc nội dung vi phạm điều cấm, chứ không phải vì sau này thấy thiệt.

Thoả thuận ở sơ thẩm và ở phúc thẩm khác nhau thế nào

Cùng là thoả thuận trước toà, nhưng hai giai đoạn vận hành khác hẳn. Bảng dưới gom những điểm người dân hay nhầm.

Tiêu chíGiai đoạn sơ thẩmGiai đoạn phúc thẩm
Thủ tục hoà giải riêngCó phiên họp hoà giải trong lúc chuẩn bị xét xử (trừ vụ không được hoặc không tiến hành hoà giải được)Không có phiên hoà giải riêng; thoả thuận diễn ra tại phiên toà
Văn bản ghi nhậnQuyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sựBản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận
Thời gian suy nghĩ lạiCó một khoảng thời gian luật định sau biên bản hoà giải thànhKhông có; bản án có hiệu lực từ ngày tuyên
Mốc tham chiếu khi thương lượngChưa có phán quyết, hai bên đều dự đoánĐã có bản án sơ thẩm làm mốc cho cả hai bên
Án phí sơ thẩmTính theo quy định về án phí khi hoà giải thànhCác bên tự thoả thuận ai chịu; không thoả thuận được thì toà quyết định
Con đường xem lạiGiám đốc thẩm trong trường hợp hẹpGiám đốc thẩm trong trường hợp hẹp, việc thi hành không tự dừng

Phần án phí phúc thẩm khi thoả thuận có quy định riêng trong văn bản về án phí, lệ phí toà án. Bạn nên hỏi thư ký toà hoặc người làm nghề trước phiên để biết bên kháng cáo có phải chịu hay không trong trường hợp cụ thể của mình.

Những nội dung nên chốt sẵn trước khi vào phòng xử

Hội đồng xét xử không soạn thoả thuận thay bạn. Bản viết tay hai bên cùng ký trước phiên, dù không bắt buộc, giúp phần trình bày nhanh và chính xác. Danh sách nên có:

  • Nghĩa vụ chính: số tiền cụ thể, tài sản cụ thể, việc phải làm hoặc không được làm, mô tả đủ để người ngoài đọc cũng hiểu.
  • Thời hạn và phương thức: trả một lần hay nhiều đợt, từng đợt vào ngày nào, chuyển khoản hay nộp tại cơ quan thi hành án.
  • Hệ quả khi chậm: bên có nghĩa vụ chậm trả thì xử lý ra sao, có tính lãi chậm trả theo quy định hay không.
  • Tài sản liên quan: thửa đất, căn nhà, xe, sổ tiết kiệm được xác định bằng thông tin trên giấy tờ gốc; ai giữ bản chính, ai làm thủ tục sang tên.
  • Án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng như chi phí định giá, thẩm định tại chỗ, giám định: ai chịu, chịu bao nhiêu phần.
  • Các yêu cầu còn lại: bên nào từ bỏ yêu cầu gì, để tránh sau này tranh cãi phần chưa được nhắc tới.

Ví dụ giả định: hai anh em tranh chấp tiền góp vốn mua chung một lô đất ở Đồng Nai. Sơ thẩm buộc người em trả cho anh một khoản tiền, người em kháng cáo. Trước phiên phúc thẩm, hai bên thống nhất người em trả ít hơn nhưng trả trong ba đợt, đợt cuối gắn với việc bán xong lô đất. Nếu không ghi rõ "bán xong" là mốc nào, đến lúc thi hành sẽ lại phát sinh tranh chấp mới.

Những sai lầm hay khiến thoả thuận đổ vỡ ngay tại phiên

Chốt miệng ngoài hành lang rồi mỗi người nhớ một kiểu. Vào trình bày mới phát hiện hai bên hiểu khác nhau về con số hoặc thời hạn, hội đồng buộc phải tiếp tục xét xử.

Thiếu một đương sự. Vụ án có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà người đó vắng hoặc không đồng ý, trong khi nội dung thoả thuận động tới phần của họ, toà khó công nhận.

Người đại diện vượt quyền. Người được uỷ quyền đồng ý thay cho đương sự trong khi giấy uỷ quyền không cho phép, hoặc đương sự gọi điện phản đối giữa chừng.

Gộp chuyện ngoài vụ án vào. Thoả thuận kèm điều kiện về một tranh chấp khác chưa được khởi kiện khiến nội dung vượt phạm vi vụ án; hội đồng thường chỉ ghi nhận phần thuộc vụ án đang xử.

Đổi ý sau khi nghe kiểm sát viên phát biểu. Một bên nghe ý kiến của kiểm sát viên có vẻ có lợi cho mình liền rút lại sự đồng ý. Thoả thuận chưa được tuyên thì vẫn có thể đổ, nên hai bên cần chắc chắn từ trước.

Câu hỏi thường gặp

Thoả thuận ở phiên phúc thẩm có cần cả hai bên cùng có mặt không?

Về nguyên tắc, hội đồng xét xử phải kiểm tra được sự tự nguyện của từng đương sự có liên quan tới nội dung thoả thuận, nên họ hoặc người đại diện hợp lệ cần có mặt. Một bên vắng mà chỉ gửi văn bản đồng ý thì toà thường rất thận trọng, có thể không ghi nhận.

Bên không kháng cáo có được tham gia thoả thuận không?

Có. Thoả thuận là giữa các đương sự trong vụ án, không chỉ người kháng cáo. Bên được lợi theo bản án sơ thẩm có quyền đồng ý nhận ít hơn, đổi cách thực hiện, hoặc giữ nguyên lập trường và đề nghị toà xét xử.

Đã thoả thuận tại phiên rồi có rút lại được không?

Khi hội đồng đã nghị án và tuyên bản án công nhận, bản án có hiệu lực ngay, không rút lại được. Trước lúc tuyên, đương sự vẫn có thể thay đổi ý kiến, nhưng việc tráo trở giữa phiên thường khiến bên kia mất lòng tin và cơ hội dàn xếp cũng mất theo.

Toà có thể sửa nội dung thoả thuận của hai bên không?

Toà không tự viết lại thoả thuận theo ý mình. Nếu có phần không hợp pháp hoặc không rõ, hội đồng sẽ giải thích và hỏi các bên có điều chỉnh không. Các bên không đồng ý điều chỉnh thì phần đó không được công nhận và toà xét xử theo thủ tục chung.

Thoả thuận ở phúc thẩm có áp dụng cho vụ án hình sự không?

Phần trách nhiệm hình sự không thể thoả thuận. Trong vụ án hình sự, bị cáo và bị hại có thể thống nhất về phần bồi thường dân sự, và toà xem xét khi giải quyết phần đó. Cách vận hành khác vụ án dân sự nên cần tìm hiểu riêng.

Thoả thuận xong bên kia không trả thì làm gì?

Bản án phúc thẩm công nhận thoả thuận có hiệu lực từ ngày tuyên, nên bạn làm đơn yêu cầu thi hành án gửi cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. Cơ quan này có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế như với một bản án thông thường.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.