Khoảng thời gian chờ phiên phúc thẩm thường là lúc hai bên dễ ngồi lại với nhau nhất. Bản án sơ thẩm đã cho mỗi bên một mốc để tính toán, sự căng thẳng ban đầu đã dịu, và ai cũng thấy rõ cái giá của việc kéo dài. Khi đã dàn xếp xong, câu hỏi tiếp theo là đưa kết quả đó vào khuôn pháp lý nào: đề nghị toà phúc thẩm công nhận tại phiên, để người kháng cáo rút kháng cáo, hay để nguyên đơn rút đơn khởi kiện.
Ba con đường này nghe giống nhau nhưng để lại kết quả rất khác: có cách cho bạn một bản án ghi đúng nội dung đã chốt, có cách giữ nguyên bản án sơ thẩm, có cách xoá hẳn mọi bản án. Bài dưới so sánh từng đường, gợi ý thứ tự giao nhận tiền và ký giấy để không bị hở, và những gì cần báo cho toà.
Vì sao nhiều vụ được dàn xếp trong khoảng chờ phúc thẩm
Trước khi có bản án sơ thẩm, mỗi bên thường tin mình đúng và kỳ vọng thắng trọn. Sau bản án, bức tranh thực tế hơn: bên thua biết lập luận của mình đã có lần không được chấp nhận, bên thắng biết bản án chưa có hiệu lực ở phần bị kháng cáo và vẫn có thể bị sửa hoặc huỷ. Cả hai đều có lý do để nhượng một chút.
Chi phí cũng bắt đầu đè nặng. Thời gian đi lại, ngày nghỉ làm, chi phí người đại diện, chi phí định giá hay giám định, và nhất là việc một khoản tiền hoặc một tài sản bị treo trong nhiều tháng. Doanh nghiệp nhỏ có một khoản công nợ bị treo thì dòng tiền bị ảnh hưởng thật; gia đình tranh chấp nhà đất thì không ai dám sửa nhà, bán đất.
Quan hệ giữa các bên là yếu tố thứ ba. Nhiều vụ là anh em ruột, vợ chồng cũ còn chung con, đối tác làm ăn lâu năm, hàng xóm sát vách. Một bản án phúc thẩm dù đúng luật vẫn có thể làm quan hệ đó hỏng hẳn, còn một thoả thuận tự nguyện giữ được phần nào thể diện cho cả hai. Đó là lý do khoảng chờ phúc thẩm, dù chỉ vài tháng, thường chứng kiến nhiều cuộc thương lượng nghiêm túc.
Ba lối ra pháp lý cho một thoả thuận ngoài toà
Mang thoả thuận vào phiên toà để toà công nhận. Các bên vẫn đến phiên phúc thẩm, trình bày nội dung đã chốt, hội đồng xét xử kiểm tra điều kiện và ra bản án sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận. Kết quả là một bản án phúc thẩm có hiệu lực từ ngày tuyên, ghi đúng nội dung các bên đã dàn xếp, dùng được để yêu cầu thi hành án.
Người kháng cáo rút kháng cáo, phần dàn xếp đưa vào thi hành án. Bản án sơ thẩm có hiệu lực theo nội dung cũ. Phần các bên đã dàn xếp khác với bản án, chẳng hạn giảm số tiền hay giãn thời hạn, được thực hiện qua cơ chế thoả thuận thi hành án. Cách này hợp khi nội dung dàn xếp không lệch nhiều so với bản án sơ thẩm.
Nguyên đơn rút đơn khởi kiện, bị đơn đồng ý. Toà phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Không còn bản án nào để thi hành, nên cách này chỉ an toàn khi mọi nghĩa vụ trong thoả thuận đã được thực hiện xong trước khi rút, ví dụ tiền đã chuyển đủ, giấy tờ đã giao xong.
So sánh ba lối ra
Bảng dưới đặt ba con đường cạnh nhau theo những câu hỏi người trong cuộc hay đặt ra nhất.
| Câu hỏi | Toà công nhận tại phiên | Rút kháng cáo | Rút đơn khởi kiện |
|---|---|---|---|
| Bản án nào còn hiệu lực | Bản án phúc thẩm theo nội dung thoả thuận | Bản án sơ thẩm theo nội dung cũ | Không còn bản án; vụ án bị đình chỉ |
| Có căn cứ yêu cầu thi hành án không | Có, theo nội dung đã chốt | Có, theo bản án sơ thẩm; phần dàn xếp qua thoả thuận thi hành án | Không; chỉ còn văn bản thoả thuận dân sự giữa hai bên |
| Ai phải đồng ý | Các đương sự có liên quan tới nội dung thoả thuận | Người kháng cáo tự quyết phần kháng cáo của mình | Nguyên đơn rút, bị đơn phải đồng ý |
| Có phải đến phiên toà không | Có, để hội đồng kiểm tra sự tự nguyện | Có thể rút bằng văn bản trước phiên | Có thể làm trước phiên hoặc tại phiên |
| Hợp khi nào | Nội dung khác nhiều so với bản án sơ thẩm, nghĩa vụ còn kéo dài | Nội dung gần giống bản án sơ thẩm | Mọi nghĩa vụ đã thực hiện xong |
Không có lựa chọn nào tốt cho mọi vụ. Điều quan trọng là chọn đường trước khi ký, và ghi rõ trong văn bản thoả thuận rằng các bên sẽ đi theo đường nào, ai làm thủ tục gì, vào lúc nào.
Văn bản thoả thuận ngoài toà nên có những gì
Thoả thuận ngoài toà là một giao dịch dân sự. Viết càng rõ, càng ít chỗ cho tranh chấp mới. Các nội dung nên có:
- Thông tin đầy đủ của các bên, số bản án sơ thẩm, toà đã xử, toà đang giải quyết phúc thẩm.
- Nội dung dàn xếp: số tiền, tài sản, việc phải làm, thời hạn từng nghĩa vụ, phương thức giao nhận.
- Con đường thủ tục các bên chọn: cùng đề nghị toà công nhận tại phiên, hay người kháng cáo rút kháng cáo, hay nguyên đơn rút đơn; ai nộp văn bản gì cho toà và vào lúc nào.
- Phân chia án phí sơ thẩm, án phí phúc thẩm và các chi phí tố tụng đã phát sinh.
- Cam kết từ bỏ các yêu cầu khác liên quan tới tranh chấp này, để tránh một bên quay lại đòi phần chưa được nhắc.
- Hệ quả nếu một bên không làm đúng: chẳng hạn bên kia có quyền tiếp tục đề nghị toà xét xử, hoặc yêu cầu thi hành bản án sơ thẩm phần chưa thực hiện.
Có nên công chứng văn bản này không là lựa chọn của các bên. Công chứng giúp chứng minh sự tự nguyện và năng lực của người ký rõ hơn, nhưng không thay được việc toà công nhận hay cơ quan thi hành án ghi nhận.
Thoả thuận thi hành án khi bản án sơ thẩm đã có hiệu lực
Pháp luật thi hành án dân sự cho phép đương sự thoả thuận về việc thi hành án, miễn là không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Các bên có thể thống nhất về thời gian, địa điểm, phương thức và cả nội dung thi hành, ví dụ bên được thi hành án đồng ý nhận ít hơn hoặc nhận trả nhiều đợt.
Khi chọn con đường rút kháng cáo, đây chính là chỗ chứa phần dàn xếp. Bản án sơ thẩm có hiệu lực, người được thi hành án làm đơn yêu cầu thi hành, rồi hai bên báo với chấp hành viên về thoả thuận của mình. Thoả thuận nên được lập thành văn bản hoặc biên bản có chữ ký của các bên, có sự ghi nhận của cơ quan thi hành án.
Điểm cần nắm: nếu bên phải thi hành án không thực hiện đúng thoả thuận, bên được thi hành án vẫn có quyền yêu cầu thi hành phần chưa được thực hiện theo nội dung bản án. Bản án sơ thẩm vì thế là tấm lưới an toàn cho bên được thi hành án. Ngược lại, bên phải thi hành án cần hiểu rằng thoả thuận giảm nợ không xoá bản án; trễ hẹn là có thể bị đòi lại theo con số gốc. Chi tiết thủ tục thi hành án nằm ở chuyên mục riêng về thi hành án.
Thứ tự giao nhận và ký giấy để không bị hở
Phần lớn tranh chấp lần hai phát sinh vì làm sai thứ tự: rút trước, nhận tiền sau. Một trình tự an toàn hơn thường như sau:
- Hai bên ký văn bản thoả thuận ghi rõ con đường thủ tục, chưa nộp gì cho toà.
- Bên có nghĩa vụ trả tiền chuyển khoản theo đúng nội dung chuyển tiền ghi số bản án; bên nhận xác nhận bằng văn bản đã nhận đủ.
- Nếu có giao tài sản hoặc giấy tờ, lập biên bản bàn giao có mô tả tình trạng tài sản, có người chứng kiến.
- Chỉ sau khi nghĩa vụ đã thực hiện xong hoặc đã có cơ chế bảo đảm, mới nộp văn bản rút đơn hoặc rút kháng cáo cho toà.
- Với nghĩa vụ còn kéo dài nhiều đợt, ưu tiên con đường đề nghị toà công nhận tại phiên để có bản án ghi đúng lịch trả.
Ví dụ giả định: một xưởng may ở Bắc Ninh bị đối tác kiện đòi tiền hàng, thua ở sơ thẩm và kháng cáo. Hai bên thống nhất xưởng trả bằng tám phần mười số tiền theo bản án, trả làm bốn tháng. Nếu nguyên đơn rút đơn ngay sau khi ký, rồi xưởng ngừng trả từ tháng thứ hai, nguyên đơn chỉ còn một văn bản thoả thuận để kiện lại từ đầu. Đưa nội dung này vào phiên phúc thẩm để toà công nhận sẽ an toàn hơn nhiều.
Báo cho toà phúc thẩm như thế nào
Không có quy định bắt các bên phải báo trước cho toà về việc đã dàn xếp, nhưng báo sớm giúp mọi việc trôi chảy. Bạn có thể gửi văn bản cho toà án đang giải quyết phúc thẩm, nêu rằng các đương sự đã thoả thuận được và đề nghị hội đồng xét xử công nhận tại phiên toà, kèm bản sao văn bản thoả thuận nếu muốn.
Văn bản đó không thay được việc có mặt. Việc công nhận chỉ diễn ra tại phiên, khi hội đồng hỏi trực tiếp từng người. Nếu một bên không đến, toà khó kiểm tra sự tự nguyện và có thể phải hoãn hoặc xét xử theo thủ tục chung. Vì vậy hai bên nên cam kết cùng có mặt, hoặc cử người đại diện có giấy uỷ quyền ghi rõ quyền thoả thuận.
Với hai con đường còn lại, văn bản gửi toà là văn bản rút kháng cáo hoặc văn bản rút đơn khởi kiện. Nên giữ bản sao có dấu nhận của toà, theo dõi việc toà ra quyết định đình chỉ hoặc huỷ án, và chỉ coi vụ việc là xong khi đã cầm quyết định trong tay.
Câu hỏi thường gặp
Thoả thuận ngoài toà có giá trị pháp lý không?
Có, đó là một giao dịch dân sự ràng buộc các bên nếu đáp ứng điều kiện có hiệu lực. Nhưng nó không tự động có sức mạnh của bản án. Muốn có căn cứ để cơ quan thi hành án cưỡng chế, cần toà công nhận hoặc gắn với một bản án đã có hiệu lực.
Đã dàn xếp xong có cần đến phiên phúc thẩm không?
Nếu chọn con đường để toà công nhận, các bên cần có mặt để hội đồng hỏi trực tiếp. Nếu chọn rút kháng cáo hoặc rút đơn khởi kiện, việc rút có thể làm bằng văn bản trước phiên, nhưng rút đơn khởi kiện vẫn cần ý kiến đồng ý của bị đơn.
Bên kia ký thoả thuận rồi lại không rút kháng cáo thì sao?
Vụ án vẫn được xét xử phúc thẩm theo thủ tục chung. Văn bản thoả thuận khi đó có thể được bạn nộp như một tài liệu cho toà biết diễn biến, nhưng toà không công nhận được nếu bên kia không xác nhận tại phiên. Đây là lý do nên giao nhận tiền theo thứ tự an toàn.
Thoả thuận giảm tiền sau khi bản án có hiệu lực thì có cần ra toà không?
Không cần. Khi bản án đã có hiệu lực, việc giảm, giãn hay đổi cách thực hiện là thoả thuận thi hành án, làm với cơ quan thi hành án dân sự. Nếu bên phải thi hành không làm đúng thoả thuận, bên kia vẫn có thể yêu cầu thi hành phần còn lại theo bản án.
Có nên nhờ người làm chứng khi giao tiền không?
Nên. Tốt nhất là chuyển khoản để có dấu vết ngân hàng, ghi rõ nội dung liên quan tới vụ án. Nếu buộc phải giao tiền mặt, lập biên bản có chữ ký hai bên và người chứng kiến, ghi số tiền bằng số và bằng chữ.