Đình chỉ xét xử phúc thẩm là quyết định chấm dứt giai đoạn phúc thẩm mà không xét lại nội dung vụ án, thường vì toàn bộ kháng cáo, kháng nghị đã được rút hoặc người kháng cáo bị coi như từ bỏ kháng cáo; bản án sơ thẩm khi đó có hiệu lực pháp luật kể từ ngày toà phúc thẩm ra quyết định đình chỉ. Nó khác hẳn đình chỉ giải quyết vụ án, kiểu phán quyết xoá luôn bản án sơ thẩm.
Nhiều người nhận được quyết định này qua đường bưu điện, đọc thấy chữ "đình chỉ" liền nghĩ vụ án bị dừng hoàn toàn và mình không còn nghĩa vụ gì. Thực tế ngược lại: bản án sơ thẩm, với tất cả nghĩa vụ trong đó, trở thành bản án có hiệu lực. Bài này giúp bạn đọc đúng quyết định, xác định mốc hiệu lực, và biết việc nên làm tiếp.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án
Hai khái niệm chỉ khác nhau vài chữ nhưng hệ quả đối lập. Bảng dưới đặt chúng cạnh nhau.
| Tiêu chí | Đình chỉ xét xử phúc thẩm | Huỷ bản án và đình chỉ giải quyết vụ án |
|---|---|---|
| Cái gì bị dừng | Chỉ giai đoạn phúc thẩm | Toàn bộ vụ án |
| Bản án sơ thẩm | Giữ nguyên và có hiệu lực | Bị huỷ, không còn giá trị |
| Hình thức | Quyết định (trước phiên) hoặc nêu tại phiên | Bản án phúc thẩm |
| Lý do điển hình | Rút hết kháng cáo, kháng nghị; vắng mặt bị coi như từ bỏ kháng cáo | Nguyên đơn rút đơn được bị đơn đồng ý; vụ án không đủ điều kiện giải quyết |
| Nghĩa vụ của bên thua sơ thẩm | Phải thi hành theo bản án sơ thẩm | Không còn nghĩa vụ theo bản án đó |
Mẹo nhận biết nhanh: nếu văn bản có chữ "huỷ bản án sơ thẩm" thì đó là kiểu phán quyết thứ hai. Nếu chỉ có "đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án" thì bản án sơ thẩm vẫn còn đó và đang có hiệu lực.
Những tình huống dẫn tới đình chỉ xét xử phúc thẩm
Người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo. Việc rút có thể diễn ra trước khi mở phiên toà hoặc ngay tại phiên. Nếu trong vụ án chỉ có một kháng cáo và không có kháng nghị, rút kháng cáo đồng nghĩa phúc thẩm không còn đối tượng để xét.
Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị. Khi phúc thẩm chỉ phát sinh từ kháng nghị của Viện kiểm sát, việc rút kháng nghị cũng dẫn tới đình chỉ. Nếu còn kháng cáo của đương sự thì phúc thẩm vẫn tiếp tục với phần đó.
Người kháng cáo bị coi như từ bỏ kháng cáo. Luật quy định người kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, không có người đại diện tham gia và không có đề nghị xét xử vắng mặt, thì bị coi như từ bỏ kháng cáo. Chi tiết các tình huống vắng mặt có danh mục riêng trên trang.
Các trường hợp khác theo luật. Ngoài ba nhóm trên, luật tố tụng còn quy định một số trường hợp đặc thù khác. Khi nhận quyết định, đoạn căn cứ ở đầu quyết định sẽ cho bạn biết toà áp dụng trường hợp nào.
Mốc hiệu lực: tính từ ngày ra quyết định đình chỉ
Điểm dễ nhầm nhất là mốc hiệu lực của bản án sơ thẩm. Nhiều người cho rằng bản án sơ thẩm có hiệu lực "từ ngày tuyên sơ thẩm" hoặc "từ khi hết hạn kháng cáo". Theo quy định của luật tố tụng dân sự, khi toà phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm, bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày toà phúc thẩm ra quyết định đình chỉ.
Mốc này quan trọng vì nhiều lý do. Nó là điểm bắt đầu tính thời hiệu yêu cầu thi hành án. Nó ảnh hưởng tới việc tính lãi chậm thi hành theo cách bản án đã tuyên. Nó cũng là mốc bắt đầu tính thời hạn nếu một bên muốn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm.
Ví dụ giả định: bản án sơ thẩm tuyên tháng Ba, bị đơn kháng cáo, hồ sơ lên toà phúc thẩm. Tháng Bảy, bị đơn nộp văn bản rút kháng cáo; toà phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vào giữa tháng Bảy. Bản án sơ thẩm có hiệu lực từ ngày ra quyết định tháng Bảy đó, chứ không phải từ tháng Ba.
Nếu quyết định đến tay bạn muộn hơn vài ngày hay vài tuần, mốc hiệu lực vẫn là ngày ghi trên quyết định. Vì vậy, khi đã nộp văn bản rút kháng cáo hoặc biết bên kia rút, bạn nên chủ động hỏi toà phúc thẩm về ngày ra quyết định thay vì chỉ ngồi chờ thư.
Nhiều người kháng cáo: một người rút thì sao
Trong vụ án có nhiều đương sự cùng kháng cáo, hoặc vừa có kháng cáo vừa có kháng nghị, việc một người rút không làm dừng toàn bộ phúc thẩm. Toà chỉ đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo đã rút, và tiếp tục xét xử phần còn lại.
Hệ quả thực tế là bản án sơ thẩm có thể có hiệu lực từng phần vào những mốc khác nhau. Phần liên quan tới kháng cáo đã rút, nếu không bị kháng cáo, kháng nghị nào khác chạm tới, sẽ có hiệu lực theo quyết định đình chỉ. Phần còn đang bị kháng cáo thì chờ bản án phúc thẩm. Đây là lý do khi đọc quyết định đình chỉ một phần, bạn cần xem kỹ nó áp dụng cho kháng cáo của ai, về nội dung gì.
Có một điểm cần lưu ý: phần bạn rút kháng cáo vẫn có thể bị xem xét lại tại phiên nếu nó liên quan chặt chẽ với kháng cáo, kháng nghị của người khác. Rút kháng cáo của mình không bảo đảm phần đó được giữ nguyên tuyệt đối nếu bên kia cũng kháng cáo theo hướng ngược lại.
Trước khi rút, bạn nên hỏi toà phúc thẩm xem trong hồ sơ còn những kháng cáo, kháng nghị nào khác, nội dung ra sao. Biết đủ bức tranh, bạn mới đánh giá được việc rút có thật sự giúp phần của mình khép lại sớm hay không.
Nhận quyết định đình chỉ: kiểm những gì
Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm thường ngắn, chỉ một hai trang, nhưng có vài chi tiết đáng kiểm:
- Ngày ra quyết định: đây là mốc hiệu lực của bản án sơ thẩm.
- Căn cứ đình chỉ: rút kháng cáo, rút kháng nghị hay coi như từ bỏ kháng cáo.
- Phạm vi: đình chỉ toàn bộ hay chỉ phần kháng cáo của một người.
- Đoạn về án phí phúc thẩm: người kháng cáo phải chịu bao nhiêu, tiền tạm ứng được xử lý ra sao.
- Thông tin bản án sơ thẩm được dẫn chiếu: số, ngày, toà ra bản án, để bạn ghép đúng hai văn bản khi yêu cầu thi hành án.
Nếu bạn không hề rút kháng cáo mà vẫn nhận quyết định đình chỉ vì "coi như từ bỏ kháng cáo", hãy kiểm lại giấy triệu tập: bạn đã thực sự được triệu tập hợp lệ chưa, có lý do bất khả kháng nào khiến mình vắng mặt không. Đây là tình huống cần hỏi người làm nghề sớm.
Trong vụ án hình sự và hành chính
Đình chỉ xét xử phúc thẩm không chỉ có ở án dân sự. Trong vụ án hình sự, khi bị cáo, bị hại hay những người có quyền kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, và Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị, toà phúc thẩm cũng đình chỉ xét xử phúc thẩm; bản án sơ thẩm khi đó có hiệu lực theo quyết định đình chỉ. Với bị cáo đang bị tạm giam, mốc này liên quan trực tiếp tới việc chuyển sang chấp hành hình phạt, nên gia đình cần biết chính xác ngày ra quyết định.
Gia đình bị cáo đôi khi khuyên bị cáo rút kháng cáo vì nghĩ "rút sớm thì được xét nhẹ". Đây là quyết định cần cân nhắc kỹ cùng người bào chữa: rút rồi thì bản án sơ thẩm có hiệu lực, không còn cơ hội trình bày tình tiết giảm nhẹ mới ở phúc thẩm. Ngược lại, nếu đã có kháng nghị theo hướng tăng nặng của Viện kiểm sát, việc bị cáo rút kháng cáo không làm phiên phúc thẩm dừng lại.
Trong vụ án hành chính, nguyên lý tương tự: người kháng cáo rút hết, Viện kiểm sát rút hết kháng nghị thì phúc thẩm dừng, bản án sơ thẩm có hiệu lực. Nếu cơ quan bị kiện là bên kháng cáo rồi rút, người dân có thể căn cứ bản án sơ thẩm để yêu cầu cơ quan thi hành.
Sau khi nhận quyết định: việc của từng bên
Với bên được thi hành theo bản án sơ thẩm, đây là lúc chuẩn bị đơn yêu cầu thi hành án. Hồ sơ thường gồm bản án sơ thẩm, quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm và giấy tờ tuỳ thân. Thông tin về tài sản, nơi làm việc, tài khoản của bên phải thi hành, nếu bạn biết, sẽ giúp cơ quan thi hành án làm việc nhanh hơn.
Với bên phải thi hành, đặc biệt là người vừa rút kháng cáo, việc rút thường gắn với một quyết định có cân nhắc: hoặc đã thoả thuận được với bên kia, hoặc thấy kháng cáo không có triển vọng. Dù lý do nào, nên chủ động thực hiện nghĩa vụ hoặc thống nhất lịch thực hiện với bên được thi hành để tránh bị cưỡng chế.
Nếu việc rút kháng cáo đi kèm một thoả thuận ngoài toà, hãy lưu ý rằng thoả thuận đó không tự thay thế bản án sơ thẩm. Bản án có hiệu lực vẫn là bản án sơ thẩm; thoả thuận ngoài toà chỉ có giá trị giữa các bên và cần được lập rõ ràng, tốt nhất có người làm chứng hoặc công chứng, để tránh tranh chấp mới.
Một việc nhỏ nhưng hay bị bỏ qua là nhận lại hoặc quyết toán tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Hãy mang quyết định đình chỉ và biên lai đã nộp đến cơ quan thi hành án dân sự nơi đã thu tiền để làm thủ tục theo đúng nội dung quyết định ghi.
Câu hỏi thường gặp
Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm có bị kháng cáo được không?
Đây là quyết định của toà cấp phúc thẩm và thường có hiệu lực ngay, không bị kháng cáo thêm. Nếu có căn cứ cho rằng quyết định vi phạm pháp luật nghiêm trọng, đương sự có thể gửi đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm.
Đã rút kháng cáo rồi, đổi ý muốn kháng cáo lại có được không?
Sau khi toà đã ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm trên cơ sở việc rút kháng cáo, bản án sơ thẩm đã có hiệu lực, nên không thể kháng cáo lại. Vì vậy trước khi rút, bạn nên cân nhắc kỹ và nếu cần thì hỏi ý kiến người làm nghề.
Rút kháng cáo có phải chịu án phí phúc thẩm không?
Nghĩa vụ án phí phúc thẩm khi rút kháng cáo phụ thuộc thời điểm rút và quy định về án phí đang áp dụng. Quyết định đình chỉ sẽ ghi rõ bạn chịu bao nhiêu và tiền tạm ứng đã nộp được xử lý thế nào.
Bên kia rút kháng cáo, mình có được báo không?
Có. Toà phúc thẩm gửi quyết định đình chỉ cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp. Nếu bạn biết bên kia đã rút mà lâu chưa nhận được quyết định, hãy liên hệ toà phúc thẩm để hỏi ngày ra quyết định.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm vì vắng mặt có khôi phục được không?
Nếu bạn có căn cứ cho rằng mình không được triệu tập hợp lệ hoặc vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng, nên gửi văn bản trình bày kèm chứng cứ cho toà ngay. Khả năng khắc phục phụ thuộc từng tình huống, và đây là việc nên có luật sư hỗ trợ.
Bản án sơ thẩm có hiệu lực từ ngày đình chỉ thì thời hạn đề nghị giám đốc thẩm tính từ đâu?
Thời hạn liên quan tới thủ tục giám đốc thẩm thường được tính từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Với trường hợp đình chỉ xét xử phúc thẩm, mốc đó là ngày ra quyết định đình chỉ. Bạn nên đối chiếu quy định hiện hành khi chuẩn bị đơn.