Văn bản trình bày ý kiến gửi toà án cấp phúc thẩm là cách đương sự nói trước với hội đồng xét xử những điểm mình đồng ý, không đồng ý với bản án sơ thẩm và với kháng cáo, kháng nghị, kèm căn cứ và tài liệu chứng minh. Luật không bắt buộc đương sự nào cũng phải có văn bản này, nhưng một văn bản tốt giúp thẩm phán chuẩn bị đúng trọng tâm và giúp chính bạn bình tĩnh hơn khi phát biểu ở phiên toà.
Bài này đi qua ai nên viết, gửi vào thời điểm nào để có tác dụng, bố cục gồm những phần gì, cách viết phần lập luận và những lỗi khiến văn bản dài mà vô ích. Kỹ năng tranh luận trực tiếp tại phiên toà là chuyện khác, chỉ nhắc ở mức cần.
Văn bản ý kiến là gì và ai nên viết
Trong tố tụng dân sự, người được thông báo về việc kháng cáo có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo cho toà cấp phúc thẩm, kèm tài liệu, chứng cứ bổ sung nếu có. Người kháng cáo cũng có thể gửi thêm văn bản để trình bày rõ hơn những gì đơn kháng cáo mới chỉ nêu ngắn gọn. Tên gọi trên thực tế khá đa dạng: bản trình bày, bản ý kiến, bản tự khai bổ sung, văn bản đề nghị. Tên không quan trọng bằng nội dung.
Người nên viết trước hết là người kháng cáo có lý do phức tạp, nhiều chi tiết, mà đơn kháng cáo không đủ chỗ trình bày. Kế đến là bên bị kháng cáo muốn bảo vệ phần bản án có lợi cho mình. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà bản án đụng đến tài sản hay nghĩa vụ của họ cũng nên viết, vì họ thường ít được hỏi ở phiên toà.
Nếu bạn đã có người bảo vệ quyền lợi, văn bản thường do họ soạn hoặc cùng soạn. Dù vậy, chính đương sự nên đọc kỹ từng câu trước khi ký, vì đây là văn bản thể hiện quan điểm của bạn. Một lời thừa nhận vô tình trong văn bản có thể bị bên kia sử dụng ở phiên toà.
Gửi vào lúc nào thì có ích nhất
Thời điểm tốt nhất là trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, sau khi bạn đã đọc hồ sơ và trước khi toà ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Lúc này thẩm phán đang nghiên cứu hồ sơ, văn bản của bạn có cơ hội được đọc kỹ, và nếu bạn đề nghị toà thu thập thêm chứng cứ hay xác minh, toà còn đủ thời gian để xem xét.
Gửi sát ngày xét xử vẫn được nhận, nhưng tác dụng giảm. Thẩm phán có ít thời gian đọc, bên kia có thể đề nghị hoãn phiên toà để nghiên cứu tài liệu mới, và bạn có thể bị xem là gây chậm trễ. Đặc biệt với tài liệu, chứng cứ mới, nộp muộn còn làm tăng khả năng toà không chấp nhận xem xét vì không có lý do chính đáng cho việc chậm nộp.
Với bên bị kháng cáo, luật có quy định thời hạn để gửi văn bản ý kiến kể từ ngày nhận thông báo về việc kháng cáo. Thời hạn này khá ngắn và nằm ở giai đoạn trước khi hồ sơ lên toà cấp trên, nên nếu lỡ, bạn vẫn có thể trình bày ý kiến trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên toà. Đối chiếu văn bản hiện hành hoặc hỏi toà để biết mốc chính xác cho vụ của mình.
Bố cục năm phần của một văn bản ý kiến
Không có mẫu bắt buộc. Bố cục dưới đây giúp người đọc ở toà tìm thấy điều cần tìm trong vài phút.
| Phần | Nội dung | Lưu ý khi viết |
|---|---|---|
| 1. Phần đầu | Tên toà nhận, số thụ lý phúc thẩm, số và ngày bản án sơ thẩm, họ tên và tư cách người viết | Ghi đúng số thụ lý phúc thẩm, không nhầm với số thụ lý sơ thẩm |
| 2. Tóm tắt quan điểm | Ba đến năm câu nêu bạn đề nghị toà làm gì với phần nào của bản án | Viết như câu trả lời nếu thẩm phán hỏi "anh chị muốn gì" |
| 3. Lập luận theo từng vấn đề | Mỗi vấn đề tranh chấp một mục, gồm sự kiện, tài liệu chứng minh, điểm bản án sơ thẩm nhận định | Đánh số mục, dẫn số bút lục nếu biết |
| 4. Đề nghị cụ thể | Giữ nguyên, sửa phần nào và sửa thế nào, hoặc đề nghị thu thập, xác minh gì thêm | Đề nghị phải nằm trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị |
| 5. Danh mục tài liệu kèm theo | Liệt kê từng tài liệu, ghi bản gốc hay bản sao, số trang | Đánh số tài liệu khớp với chỗ viện dẫn trong phần 3 |
Một văn bản như vậy thường chỉ cần vài trang. Nếu bạn thấy mình viết đến hàng chục trang, nhiều khả năng đang kể lại toàn bộ câu chuyện thay vì tập trung vào phần đang bị tranh chấp ở phúc thẩm.
Viết phần lập luận: bám vào phần đang bị xem lại
Một vấn đề, một mục. Đừng trộn chuyện tiền cọc với chuyện lãi chậm trả trong cùng một đoạn. Hội đồng xét xử thường thảo luận theo từng vấn đề, nên văn bản chia đúng vấn đề giúp họ đối chiếu nhanh.
Bắt đầu từ chỗ bản án sơ thẩm nhận định. Trích ngắn câu nhận định bạn không đồng ý, rồi nói vì sao. Viết như vậy cho thấy bạn đã đọc kỹ bản án và đang phản biện có căn cứ, không phải bày tỏ bức xúc chung chung.
Sự kiện trước, luật sau. Phần lớn tranh chấp dân sự thắng thua ở chỗ chứng minh sự kiện, không phải ở chỗ dẫn điều luật. Nếu dẫn luật, chỉ dẫn khi chắc chắn văn bản đó đang có hiệu lực và áp dụng được cho thời điểm phát sinh tranh chấp.
Thừa nhận điều không thể chối. Điểm nào bên kia đúng và đã có chứng cứ rõ, việc thừa nhận giúp phần còn lại của bạn đáng tin hơn. Phủ nhận mọi thứ khiến lời trình bày mất sức nặng.
Giọng văn bình tĩnh, không quy kết. Tránh những chữ như "cố tình", "bao che", "xử ép" khi không có căn cứ. Văn bản gửi toà không phải nơi trút giận; mục tiêu là thuyết phục ba người đang đọc.
Tài liệu kèm theo và cách sắp xếp
Tài liệu kèm theo quyết định văn bản có trọng lượng hay không. Khi chuẩn bị, lưu ý:
- Chỉ đính kèm tài liệu liên quan đến phần đang bị kháng cáo, không gửi lại cả hồ sơ sơ thẩm vì toà đã có.
- Tài liệu đã có trong hồ sơ thì chỉ cần viện dẫn, không nhất thiết sao gửi lại; nếu muốn đính kèm để tiện đọc, ghi rõ "đã có trong hồ sơ".
- Tài liệu mới chưa từng nộp ở sơ thẩm phải đi kèm giải thích vì sao bây giờ mới nộp; điều kiện để toà cấp trên xem xét chứng cứ mới là chuyện cần đối chiếu kỹ.
- Bản sao nên có chứng thực hoặc mang theo bản gốc để đối chiếu khi toà yêu cầu.
- Tài liệu tiếng nước ngoài cần bản dịch theo quy định; ảnh, ghi âm cần ghi rõ nguồn gốc, thời điểm, người thực hiện.
- Đánh số trang toàn bộ tập tài liệu và lập danh mục ở trang cuối văn bản.
Nếu có ghi âm, video, hãy chép lại nội dung liên quan thành văn bản kèm theo, ghi rõ phút giây tương ứng, để hội đồng xét xử không phải nghe toàn bộ tệp mới tìm ra đoạn cần.
Ví dụ giả định: phần lập luận của một văn bản ngắn
Ví dụ giả định: bà H. cho ông K. thuê mặt bằng để mở cửa hàng. Bản án sơ thẩm buộc bà H. trả lại toàn bộ tiền cọc và bồi thường chi phí cải tạo cho ông K. Bà H. kháng cáo phần bồi thường chi phí cải tạo, không kháng cáo phần trả cọc. Ông K. là bên bị kháng cáo.
Văn bản ý kiến của bà H. không cần kể lại chuyện hai bên quen nhau ra sao. Phần tóm tắt quan điểm chỉ một câu: đề nghị toà phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không buộc bà bồi thường chi phí cải tạo, giữ nguyên phần trả cọc. Phần lập luận gồm hai mục. Mục một nêu hợp đồng thuê có điều khoản bên thuê tự chịu chi phí cải tạo khi chấm dứt trước hạn, dẫn đúng trang hợp đồng trong hồ sơ. Mục hai chỉ ra bản án sơ thẩm tính chi phí cải tạo theo bảng kê do ông K. tự lập, không có hoá đơn, và đề nghị toà xem xét lại căn cứ xác định số tiền.
Văn bản của ông K. đi theo hướng ngược lại: ông đồng ý với bản án sơ thẩm, giải thích điều khoản hợp đồng chỉ áp dụng khi bên thuê đơn phương chấm dứt, trong khi theo ông chính bà H. lấy lại mặt bằng trước hạn, và gửi kèm những tài liệu đã có trong hồ sơ chứng minh điều đó. Hai văn bản, mỗi bên vài trang, đặt cạnh nhau là đủ để hội đồng xét xử thấy rõ tranh chấp ở phúc thẩm chỉ còn xoay quanh hai câu hỏi: ai chấm dứt hợp đồng trước, và chi phí cải tạo được chứng minh đến đâu. Một văn bản tốt làm được đúng việc đó: thu hẹp vấn đề, không mở rộng thêm.
Nộp văn bản và giữ bằng chứng đã nộp
Viết xong mới đi được nửa đường. Các bước dưới đây giúp văn bản đến đúng nơi và bạn chứng minh được đã nộp.
- In đủ số bản: một bản cho toà, thêm bản cho Viện kiểm sát nếu cần, và một bản để bạn giữ làm bản đối chiếu.
- Ký từng trang hoặc ít nhất trang cuối, ghi ngày. Nếu là doanh nghiệp, người đại diện ký và đóng dấu theo quy định.
- Nộp tại bộ phận tiếp nhận của toà án cấp phúc thẩm, ghi rõ số thụ lý. Đề nghị cán bộ ký nhận hoặc cấp biên nhận có ghi ngày.
- Nếu gửi qua bưu chính, dùng dịch vụ có báo phát và giữ phiếu gửi; nếu toà cho phép gửi qua kênh điện tử, lưu lại xác nhận đã gửi.
- Kẹp bản sao có biên nhận vào bìa hồ sơ, đặt ngay sau thông báo thụ lý để dễ tìm khi đi dự phiên toà.
Tại phiên toà, khi được hỏi, bạn chỉ cần nói ngắn gọn rằng quan điểm đã trình bày trong văn bản gửi ngày nào và chỉ nhấn lại hai ba điểm chính. Cách này tiết kiệm thời gian và giúp hội đồng xét xử thấy sự nhất quán.
Câu hỏi thường gặp
Không gửi văn bản ý kiến thì có bị thiệt không?
Không gửi văn bản không làm mất quyền trình bày tại phiên toà. Tuy nhiên, bạn bỏ lỡ cơ hội để hội đồng xét xử biết trước quan điểm và căn cứ của mình khi đang nghiên cứu hồ sơ. Với vụ có nhiều chi tiết, văn bản trình bày trước thường giúp ích đáng kể.
Văn bản ý kiến có thể thay thế việc có mặt ở phiên toà không?
Trong một số trường hợp, đương sự có thể đề nghị xét xử vắng mặt và toà sẽ dựa vào văn bản đã gửi. Nhưng với người kháng cáo, vắng mặt mà không có đề nghị hợp lệ có thể dẫn tới hệ quả bất lợi. Hãy tìm hiểu kỹ quy định về vắng mặt trước khi quyết định.
Có cần dẫn số điều luật trong văn bản không?
Không bắt buộc. Nhiều văn bản tốt chỉ trình bày sự kiện và chứng cứ rõ ràng. Nếu dẫn luật, phải chắc văn bản đó còn hiệu lực và áp dụng đúng thời điểm phát sinh tranh chấp. Dẫn sai luật làm giảm độ tin cậy của toàn bộ văn bản.
Gửi nhiều văn bản ý kiến liên tiếp có được không?
Được, nhưng không nên. Mỗi lần gửi thêm là thêm một tài liệu cho thẩm phán đọc và đối chiếu. Tốt hơn là đọc hồ sơ xong, viết một văn bản đầy đủ, và chỉ gửi bổ sung khi có tài liệu mới hoặc sự kiện mới thật sự.
Văn bản ý kiến có được gửi cho bên kia không?
Tài liệu, chứng cứ nộp cho toà thường phải được công khai cho các đương sự khác theo quy định. Bạn nên viết với giả định bên kia sẽ đọc được, tránh những câu xúc phạm hay những tiết lộ không cần thiết về chiến lược của mình.
Đã có luật sư thì đương sự có cần tự viết không?
Thường luật sư soạn văn bản, nhưng đương sự nên cung cấp thông tin sự kiện chính xác và đọc duyệt bản cuối trước khi ký. Những chi tiết về ngày giờ, số tiền, người có mặt thì chỉ đương sự biết rõ nhất, và một sai sót nhỏ có thể bị bên kia khai thác.